|
QUỐC HỘI
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh
phúc |
|
Luật số: /2026/QH16 |
|
LUẬT
TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo
Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Quốc hội ban hành Luật Tín ngưỡng,
tôn giáo.
Chương I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Phạm vi điều
chỉnh, đối tượng áp dụng
1. Luật
này quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; tổ chức tôn giáo; quyền
và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức,
cộng đồng dân cư, cá nhân có liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.
2. Luật
này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, cá nhân trong việc
bảo đảm và thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Điều 2. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Tín ngưỡng là niềm tin của con người
được thể hiện thông qua những lễ nghi
gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng dân
cư.
2. Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thờ cúng tổ tiên, các biểu tượng
linh thiêng; tưởng niệm và tôn vinh người có công với đất nước, với
cộng đồng dân cư; thực hiện các lễ nghi dân gian gắn liền với những giá trị lịch sử, văn hóa, đạo đức xã
hội.
3. Lễ hội tín ngưỡng là
hoạt động tín ngưỡng được tổ chức theo lễ nghi truyền thống nhằm đáp ứng
nhu cầu tinh thần của cộng đồng dân cư.
4. Cơ sở tín ngưỡng là
địa điểm thực hiện hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng dân cư, gồm đình,
đền, miếu, nhà thờ dòng họ và những cơ sở hợp pháp tương tự khác.
5. Tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động, bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức.
6. Tín đồ là người tin, theo một tôn giáo và được tổ chức tôn giáo đó thừa nhận.
7.
Nhà
tu hành là tín đồ xuất gia, thường xuyên thực hiện nếp
sống riêng theo giáo lý, giáo luật và quy định của tổ chức tôn giáo.
8. Chức sắc là tín đồ được tổ chức tôn giáo phong phẩm hoặc suy cử để giữ
phẩm vị trong tổ chức.
9.
Chức việc là người
được tổ chức tôn giáo,
tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức
được cấp chứng
nhận đăng ký hoạt động tôn giáo bổ nhiệm,
bầu cử hoặc suy cử để giữ
chức vụ lãnh đạo, quản lý, điều hành hoạt động của tổ chức.
10.
Sinh
hoạt tôn giáo là việc bày tỏ niềm tin tôn giáo, thực hành giáo
lý, giáo luật, lễ nghi tôn giáo.
11.
Hoạt
động tôn giáo là hoạt động truyền bá tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo
và quản lý tổ chức của tôn giáo.
12.
Tổ chức tôn giáo là tập hợp tín đồ, chức sắc, chức việc, nhà tu hành của
một tôn giáo được tổ chức theo cơ cấu nhất định được Nhà nước công nhận nhằm thực hiện các hoạt động tôn
giáo.
13.
Tổ
chức tôn giáo trực thuộc là tổ chức thuộc tổ chức tôn giáo,
được thành lập theo hiến chương, điều lệ, quy định của tổ chức tôn giáo.
14.
Cơ sở tôn giáo là địa điểm thực hiện hoạt động tôn giáo của tổ chức tôn
giáo, tổ chức tôn giáo
trực thuộc gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh
thất, thánh đường, trụ sở
của tổ chức tôn giáo và những cơ sở hợp pháp tương tự khác.
15.
Địa
điểm hợp pháp là đất, nhà ở, công trình mà tổ chức hoặc cá nhân có
quyền sử dụng hợp pháp theo quy định của pháp luật.
16.
Người
đại diện là người thay mặt và chịu trách nhiệm trước pháp
luật về hoạt động tín ngưỡng, sinh hoạt tôn giáo tập trung, hoạt động tôn
giáo của nhóm người hoặc tổ chức mà mình đại diện.
17. Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên
không gian mạng là việc tổ
chức, cá nhân theo quy định của Luật này sử dụng không gian mạng để thực
hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.
Điều 3. Nguyên tắc hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo
1. Tuân
thủ Hiến
pháp, Luật
này và
quy định
khác của
pháp luật
có liên
quan.
2.
Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
3.
Bảo đảm an ninh quốc gia, trật
tự, an toàn xã hội, tiết kiệm, chống lãng phí, bảo vệ tài nguyên, môi
trường.
4. Không vi phạm quy định tại Điều 7 của Luật
này.
Điều 4. Trách
nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
1. Tôn
trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm
các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật.
2. Tôn
trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền
thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước,
với cộng đồng dân cư, đáp
ứng nhu cầu tinh thần của Nhân dân.
3. Bảo hộ cơ sở tín ngưỡng,
cơ sở tôn giáo và tài sản hợp pháp thuộc cơ sở tín ngưỡng,
tài sản hợp pháp
của tổ chức tôn giáo,
tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt
động tôn giáo.
4. Khuyến
khích và tạo điều kiện phát huy nguồn lực của tín ngưỡng, tôn giáo phục vụ sự nghiệp phát
triển đất nước,
bảo đảm an sinh xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
5. Quản
lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo phải bảo đảm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo Hiến pháp,
pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên.
Điều 5. Hợp tác quốc tế trong công tác tín
ngưỡng, tôn giáo
1. Nguyên tắc hợp tác quốc tế bao gồm:
a) Tuân
thủ Hiến pháp,
pháp luật Việt Nam, phù hợp với điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;
b) Tôn trọng
độc lập, chủ quyền, thống
nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia,
không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; bảo
đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.
2. Nội dung hợp tác quốc tế bao gồm:
a) Trao
đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm trong xây dựng và thực hiện chính
sách, pháp luật;
b) Tổ chức hoặc tham gia hội nghị, hội thảo, diễn đàn quốc tế;
c) Đào tạo, bồi dưỡng,
tập huấn cho cán bộ, công chức, viên chức;
d) Nghiên cứu khoa học;
đ) Phòng, chống vi
phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo;
e) Các nội dung khác theo quy định của pháp luật.
Điều 6. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính
trị - xã hội
1.
Tập hợp đồng bào theo tín ngưỡng,
tôn giáo và đồng bào không
theo tín ngưỡng, tôn giáo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
2.
Phản ánh kịp thời ý kiến, nguyện
vọng, kiến nghị của Nhân dân về các vấn đề có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền.
3.
Tham gia xây dựng,
góp ý kiến về chính
sách, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo; thực hiện phản biện xã
hội đối với các dự thảo văn
bản quy phạm pháp luật,
quy hoạch, kế hoạch, chương
trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước
về tín ngưỡng,
tôn giáo theo quy định của pháp
luật.
4.
Tham gia tuyên truyền, vận động
chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ, người theo tín ngưỡng,
tôn giáo, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc,
tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký
hoạt động tôn giáo và Nhân dân thực hiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn
giáo; phát huy nguồn lực của tín ngưỡng, tôn giáo phục vụ sự nghiệp
phát triển đất nước, bảo đảm an sinh xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn
dân tộc.
5.
Giám sát hoạt động của cơ quan
nhà nước, tổ chức, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức, viên chức trong
việc thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
Điều 7. Các hành vi bị nghiêm
cấm
1. Phân biệt
đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng,
tôn giáo.
2.
Ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở
người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo.
3. Xúc phạm tín ngưỡng,
tôn giáo.
4. Hoạt động tín ngưỡng,
tôn giáo:
a) Xâm
phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi
trường;
b) Trái
đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh
dự, nhân phẩm của người khác;
c)
Cản trở việc
thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân;
d) Chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ giữa người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín
ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác
nhau.
5. Lợi
dụng tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo
để thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 4 Điều này.
6. Sử
dụng không gian mạng, trí tuệ nhân tạo hoặc công nghệ mới để vi phạm pháp
luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
Điều 8. Hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng
1. Khi
hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, tổ chức, cá nhân quy định tại điểm b khoản 3 Điều 15 của Luật này, người
đại diện, ban quản
lý cơ sở tín ngưỡng, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tổ chức tôn giáo,
tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động
tôn giáo, nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung phải thông báo, đăng ký hoặc đề
nghị về việc thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo với cơ quan nhà
nước có thẩm quyền theo quy định của Luật này.
2. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với hoạt động tín ngưỡng,
tôn giáo trên không gian mạng:
a) Cơ
quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm hướng dẫn, giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; phát hiện, ngăn chặn, xử lý
các hành vi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo;
b) Tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không
gian mạng có trách nhiệm tuân thủ các quy định của pháp luật về tín ngưỡng,
tôn giáo và pháp luật có liên quan;
c)
Tổ chức, doanh nghiệp
cung cấp dịch vụ trên không gian mạng
có trách nhiệm triển khai các giải
pháp kỹ thuật, phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền gỡ bỏ, ngăn
chặn các nội dung vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo;
d) Tổ
chức, doanh nghiệp có mạng viễn thông có trách nhiệm ngăn chặn truy cập các nội dung vi phạm pháp luật về tín ngưỡng,
tôn giáo theo yêu cầu của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Chương II
QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG,
TÔN GIÁO
Điều 9. Quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người
1. Mọi
người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn
giáo nào.
2. Mỗi
người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo.
3. Mỗi
người có quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo,
lớp bồi dưỡng về tôn giáo. Người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn
giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về tôn giáo phải trên
cơ sở tự nguyện và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
4. Chức
sắc, chức việc, nhà tu hành có quyền thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng
đạo, truyền đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác.
5. Người
bị tạm giữ, người bị tạm giam, người đang chấp hành hình phạt tù, người
đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện
ma tuý có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo.
Điều 10. Quyền
tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú
hợp pháp tại Việt Nam
1. Người
nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo.
2. Người nước ngoài cư trú hợp pháp
tại Việt Nam có các quyền sau đây:
a) Sinh hoạt tôn giáo, tham gia hoạt động tín ngưỡng,
tôn giáo;
b) Sử dụng địa điểm hợp pháp
để sinh hoạt tôn giáo tập trung;
c) Mời chức sắc, chức việc, nhà tu hành là người
Việt Nam thực hiện lễ nghi
tôn giáo, giảng đạo; mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài giảng
đạo;
d) Vào
tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng về
tôn giáo;
đ) Mang theo xuất bản phẩm tôn giáo, đồ dùng tôn giáo để phục vụ nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của cá nhân.
3. Chức sắc,
nhà tu hành là người
nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam được giảng đạo tại cơ sở tôn giáo
hoặc địa điểm hợp pháp khác ở Việt Nam.
Điều 11. Quyền của tổ chức tôn giáo,
tổ chức tôn giáo trực
thuộc
1.
Hoạt động tôn giáo theo hiến
chương, điều lệ và văn bản có nội dung tương tự (sau đây gọi chung là hiến
chương) của tổ chức tôn giáo.
2. Tổ chức sinh hoạt tôn giáo.
3. Xuất bản kinh sách, xuất bản phẩm khác
về tôn giáo.
4. Sản
xuất, xuất
khẩu, nhập
khẩu văn
hóa phẩm
tôn giáo,
đồ dùng
tôn giáo.
5. Cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới cơ sở tôn
giáo.
6.
Nhận tài sản hợp pháp do tổ chức, cá nhân trong nước,
tổ chức, cá nhân
nước ngoài tự nguyện tặng cho.
7. Các quyền khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp
luật có liên quan.
Điều 12. Quyền của tổ chức
được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo
1. Tổ
chức các cuộc lễ tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo, giảng đạo, bồi dưỡng giáo
lý.
2. Bổ nhiệm,
bầu cử, suy cử chức việc.
3. Sửa chữa,
cải tạo trụ sở.
4. Hoạt động từ thiện,
nhân đạo.
5. Tổ chức đại hội thông qua hiến chương.
Điều 13. Nghĩa vụ của tổ chức,
cộng đồng dân cư, cá nhân trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
1. Tổ chức, cộng đồng dân cư, cá nhân tham gia hoạt động tín ngưỡng,
tôn giáo phải tuân thủ quy định tại Điều 3 của Luật này.
2. Chức
sắc, chức việc, nhà tu hành, người đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng
có trách nhiệm hướng dẫn tín đồ, người tham gia hoạt động tín ngưỡng,
tôn giáo thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo đúng quy định của pháp
luật.
Chương III
HOẠT ĐỘNG TÍN NGƯỠNG
Điều 14. Người
đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng
1. Cơ
sở tín ngưỡng phải có người đại diện hoặc ban quản lý để chịu trách nhiệm
trước pháp luật về các hoạt động diễn ra tại cơ sở tín ngưỡng.
2. Người
đại diện hoặc thành viên ban quản lý cơ sở tín ngưỡng phải đáp ứng các
điều kiện sau đây:
a) Là công dân Việt Nam thường
trú tại Việt
Nam;
b) Có năng lực
hành vi dân sự đầy đủ;
c) Có uy tín trong cộng đồng dân cư;
d) Không
thuộc một trong các trường hợp: đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp
xử lý hành chính; đang bị truy cứu trách
nhiệm hình sự; đã bị kết
án mà chưa được xóa án tích; đã bị kết án và đã được xóa án tích hoặc không
bị coi là có án tích nhưng thuộc trường hợp bị kết án về tội xâm phạm an ninh quốc gia.
Người
đại diện, thành viên ban quản lý cơ sở tín ngưỡng hoạt động theo nhiệm kỳ.
Thời hạn nhiệm kỳ; trách nhiệm, quyền hạn của người đại diện, thành viên
ban quản lý cơ sở tín ngưỡng do cộng đồng dân cư quy định trong quy chế được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3 hoặc khoản 4 Điều này chấp
thuận.
3. Ủy
ban nhân dân xã, phường, đặc khu (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi
có cơ sở tín ngưỡng, phối hợp Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp tổ chức để cộng đồng dân cư nơi có cơ sở tín ngưỡng
bầu, cử người đại diện
hoặc thành viên ban quản lý. Căn cứ kết quả bầu, cử và các điều kiện quy
định tại khoản 2 Điều này, Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành quyết định công
nhận người đại diện hoặc thành viên ban quản lý cơ sở tín ngưỡng trong
thời hạn 05 ngày làm việc
kể từ ngày bầu, cử.
4. Đối
với cơ sở tín ngưỡng thuộc địa bàn nhiều xã trong một tỉnh, thành phố (sau
đây gọi là tỉnh) thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phối hợp Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam cùng cấp tổ chức để cộng đồng dân cư nơi có cơ sở tín ngưỡng
bầu, cử người đại diện hoặc thành viên ban quản lý.
Căn cứ kết quả bầu, cử và các điều kiện
quy định tại khoản 2 Điều
này, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định công nhận người đại diện hoặc thành viên ban
quản lý cơ sở tín ngưỡng trong thời hạn 05 ngày làm việc
kể từ ngày bầu, cử.
5. Việc
bầu, cử người đại diện hoặc ban quản lý nhà thờ dòng họ không phải thực
hiện theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều này.
6. Cơ
sở tín ngưỡng đã được đưa vào Danh mục kiểm kê, xếp hạng di tích thì thực
hiện việc giao tổ chức, người đại diện quản lý cơ sở theo quy định của
pháp luật về di sản văn hóa.
Điều 15. Thông
báo, đăng ký hoạt động tín ngưỡng
1. Hoạt
động tín ngưỡng tại cơ sở tín ngưỡng phải được thông báo với cơ quan nhà
nước có thẩm quyền trước khi thực hiện, trừ hoạt động tín ngưỡng tại cơ
sở tín ngưỡng là nhà thờ dòng họ.
2. Thông báo hoạt động tín ngưỡng
tại cơ sở tín ngưỡng:
a) Đối
với cơ sở tín ngưỡng thuộc địa bàn một xã thì người đại diện hoặc ban
quản lý có trách nhiệm
thông báo bằng văn bản về
hoạt động tín ngưỡng
với Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có cơ sở tín ngưỡng;
b) Đối với cơ sở tín ngưỡng
thuộc địa bàn nhiều xã trong một tỉnh thì người
đại diện hoặc ban quản lý có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về hoạt
động tín ngưỡng với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có cơ sở tín ngưỡng;
c) Chậm nhất 30 ngày trước ngày cơ sở tín ngưỡng
bắt đầu hoạt động, người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở
tín ngưỡng có trách nhiệm thông báo bằng
văn bản về hoạt động tín ngưỡng
diễn ra hằng năm tại cơ sở đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại điểm a hoặc
điểm b Điều này, trừ trường hợp quy định tại Điều 17 của Luật này;
d) Việc thông
báo hoạt động tín ngưỡng
chỉ thực hiện một lần trừ hoạt động
tín ngưỡng quy định tại điểm b khoản 3 Điều này. Đối với hoạt động tín
ngưỡng không có trong
văn bản đã được thông báo thì người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng có trách nhiệm thông
báo bổ sung chậm nhất 20 ngày trước ngày diễn ra hoạt động tín ngưỡng.
3. Đăng ký hoạt động tín ngưỡng
ngoài cơ sở tín ngưỡng:
a) Tổ
chức, cá
nhân được
thực hiện
hoạt động
tín ngưỡng
ngoài cơ
sở tín
ngưỡng;
b) Các hoạt động tín ngưỡng
thực hiện ngoài cơ sở tín ngưỡng
có tính chất phức tạp, quy mô lớn phải được đăng ký trước
khi thực hiện với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 2 Điều này.
4. Hoạt
động tín ngưỡng thuộc di sản văn hóa phi vật thể đã được đưa vào Danh mục
kiểm kê, ghi danh di sản văn hóa phi vật thể hoặc diễn ra tại cơ sở tín
ngưỡng đã được đưa vào Danh mục kiểm kê, xếp hạng di tích
thực hiện theo quy
định của pháp luật về di sản văn hóa.
Điều 16. Tổ chức lễ hội tín ngưỡng
định kỳ
1. Người
đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng có trách nhiệm thông báo bằng văn
bản cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng
diễn ra định kỳ chậm nhất 20 ngày trước ngày tổ chức lễ hội theo quy định
sau đây:
a) Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tổ chức lễ hội có trách nhiệm
tiếp nhận thông báo đối với lễ hội tín ngưỡng
có phạm vi tổ chức trong một xã;
b) Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh nơi tổ chức lễ hội có trách nhiệm tiếp nhận thông
báo đối với lễ hội tín ngưỡng không thuộc quy định tại điểm a khoản này.
2. Việc
tổ chức lễ hội tín ngưỡng định kỳ thuộc di sản văn hóa phi vật thể đã được
đưa vào Danh mục kiểm kê, ghi danh di sản văn hóa phi vật thể hoặc tổ chức lễ
hội tại cơ sở tín ngưỡng được đưa vào Danh mục kiểm kê, xếp hạng di tích
thực hiện theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa.
3. Cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có trách
nhiệm bảo đảm việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng theo nội dung thông báo.
Điều 17. Tổ chức lễ hội tín ngưỡng lần đầu, lễ hội tín ngưỡng được
khôi phục hoặc lễ hội tín ngưỡng định kỳ nhưng có thay đổi
Trước
khi tổ chức lễ hội tín ngưỡng lần đầu, lễ hội tín ngưỡng được khôi phục sau thời gian gián đoạn hoặc lễ hội tín ngưỡng
được tổ chức định kỳ nhưng
có thay đổi về quy mô, nội dung, thời gian, địa điểm thì người đại diện
hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng có trách nhiệm gửi văn bản đăng ký đến Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh nơi tổ chức lễ hội, trừ các lễ hội
tín ngưỡng thuộc di sản văn hóa phi
vật thể đã được đưa vào Danh mục kiểm kê, ghi danh di sản văn hóa phi
vật thể hoặc tổ chức tại cơ sở tín ngưỡng đã được đưa vào Danh mục kiểm kê, xếp hạng di tích.
Điều 18. Quản lý, sử dụng khoản thu từ việc tổ chức lễ hội tín
ngưỡng
1. Người
đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng có trách nhiệm quản lý và sử
dụng đúng mục đích, công khai, minh bạch khoản thu từ việc tổ chức lễ hội
tín ngưỡng.
2. Chậm nhất 20 ngày kể từ ngày kết thúc lễ hội tín ngưỡng, người
đại diện hoặc ban quản lý cơ
sở tín ngưỡng có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về khoản thu, mục đích sử dụng khoản thu đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền
nơi tiếp nhận thông báo hoặc đăng ký tổ chức lễ hội quy định tại
khoản 1 Điều 16, Điều 17 của Luật này.
3. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 16, Điều 17 của Luật này có trách nhiệm kiểm tra
việc quản lý, sử dụng khoản thu từ việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng quy định
tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
Chương IV
ĐĂNG KÝ SINH HOẠT TÔN GIÁO TẬP TRUNG, ĐĂNG KÝ HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO
Điều 19. Điều kiện, thẩm quyền chấp thuận, thu hồi văn bản
chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung
1. Tổ chức tôn giáo,
tổ chức tôn giáo trực thuộc đăng ký sinh hoạt tôn giáo
tập trung cho tín đồ tại những nơi chưa đủ điều kiện thành lập tổ chức tôn
giáo trực thuộc; tổ chức được cấp chứng
nhận đăng ký hoạt động tôn giáo
đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung cho những
người thuộc tổ chức khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
a)
Có địa điểm hợp pháp để
sinh hoạt tôn giáo tập trung;
b) Có
người đại diện đáp ứng các điều kiện quy định tại điểm a, b và d khoản 2
Điều 14 của Luật này;
c) Tên của nhóm không trùng với tên tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc hoặc tổ chức đã được cấp chứng
nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, tên tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -
xã hội hoặc tên danh nhân, anh hùng dân tộc;
d) Nội
dung sinh hoạt tôn giáo không thuộc một trong các trường hợp quy định tại
Điều 7 của Luật này.
2. Những
người theo tôn giáo không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này
được đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung khi có giáo lý, giáo luật và
đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Ủy ban nhân dân cấp xã nơi dự kiến đặt địa điểm sinh hoạt tôn giáo tập trung có
trách nhiệm trả lời bằng văn bản về việc
đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung.
4. Nhóm
sinh hoạt tôn giáo tập trung được thay đổi địa điểm sinh hoạt tôn
giáo tập trung, thay đổi người đại diện nhóm theo quy định của pháp luật.
5. Trong thời
hạn 06 tháng, nếu nhóm sinh hoạt tôn giáo
tập trung không
tổ chức sinh hoạt tôn giáo thì văn bản chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn
giáo tập trung của Ủy ban nhân dân cấp xã hết hiệu lực, trừ trường
hợp bất khả kháng theo quy định của pháp luật về dân sự.
6. Ủy
ban nhân dân cấp xã thu hồi văn bản chấp thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo
tập trung khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung có một
trong các hành vi quy định tại khoản 4 hoặc khoản 5 Điều 7 của Luật
này;
b) Theo
đề nghị của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng
nhận đăng ký hoạt động tôn giáo quy định tại khoản 1 Điều này;
c) Theo
đề nghị của người đại diện nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung quy định tại
khoản 2 Điều này.
Điều 20. Điều kiện, thẩm quyền chấp thuận, thu hồi văn bản
chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo
1. Tổ
chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo khi đáp ứng đủ các điều
kiện sau đây:
a) Có giáo lý, giáo luật, lễ nghi và nội dung hoạt động tôn giáo không thuộc một trong các trường hợp quy định
tại Điều 7 của Luật này;
b) Có
tôn chỉ, mục đích, quy chế hoạt động không trái với quy định của pháp
luật;
c) Tên
của tổ chức không trùng với tên tổ chức tôn giáo hoặc tổ chức đã được cấp
chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, tên tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị - xã hội hoặc tên danh nhân, anh hùng dân tộc;
d) Có
người đại diện, người lãnh đạo tổ chức đáp ứng các điều kiện quy định tại
điểm a, b và d khoản 2 Điều 14 của Luật này;
đ) Có địa điểm hợp
pháp để đặt trụ sở.
2. Thẩm quyền cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn
giáo:
a) Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo đối với tổ
chức có địa bàn hoạt động ở một tỉnh;
b) Bộ Dân tộc và Tôn giáo cấp chứng
nhận đăng ký hoạt động tôn giáo
đối với tổ chức có địa bàn hoạt động ở nhiều tỉnh.
3. Trong
thời hạn 01 năm, nếu tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo không tổ chức
hoạt động tôn giáo thì văn bản chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hết hiệu lực, trừ trường
hợp bất khả kháng theo quy định của pháp luật về dân sự.
4. Cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này thu hồi
văn bản chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo khi thuộc một trong các
trường hợp sau đây:
a) Tổ
chức được cấp chứng nhận đăng
ký hoạt động tôn giáo có một trong
các hành vi quy định tại khoản 4 hoặc khoản 5 Điều 7 của Luật này;
b) Theo
đề nghị của người đại diện tổ chức
được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo.
Chương V
TỔ CHỨC TÔN GIÁO
Mục 1
CÔNG NHẬN TỔ CHỨC TÔN GIÁO; THÀNH LẬP, CHIA, TÁCH, SÁP NHẬP, HỢP NHẤT TỔ CHỨC TÔN
GIÁO TRỰC THUỘC
Điều 21. Điều kiện, thẩm quyền công nhận tổ chức tôn giáo
1. Tổ chức đã được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo được công
nhận là tổ chức tôn giáo khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
a) Hoạt
động ổn định, liên tục từ đủ 05 năm trở lên kể từ ngày được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo;
b) Nội dung hoạt động tôn giáo
không thuộc một trong các trường hợp quy
định tại Điều 7 của Luật này;
c) Có hiến chương theo quy định tại Điều 22 của Luật này;
d) Có
người đại diện, người lãnh đạo tổ chức đáp ứng các điều kiện quy định tại điểm a, b và d khoản 2 Điều 14
của Luật này;
đ) Có cơ cấu
tổ chức theo hiến chương;
e) Có tài sản độc lập với cá nhân,
tổ chức khác
và tự chịu trách nhiệm
bằng tài sản của mình;
g) Nhân danh tổ chức tham gia quan hệ pháp luật
một cách độc lập.
2. Thẩm quyền công nhận tổ chức tôn giáo:
a) Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh quyết định công nhận tổ chức tôn giáo có địa bàn hoạt
động ở một tỉnh;
b) Bộ
Dân tộc và Tôn giáo quyết định công nhận tổ chức tôn giáo có địa bàn hoạt
động ở nhiều tỉnh.
Điều 22. Hiến chương
của tổ chức tôn giáo
1. Hiến chương của tổ chức tôn giáo có những nội dung cơ bản sau
đây:
a) Tên của tổ chức;
b) Tôn chỉ, mục đích,
nguyên tắc hoạt động;
c) Địa bàn hoạt động, trụ sở
chính;
d) Tài chính,
tài sản;
đ) Người đại diện theo pháp luật;
e) Chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, mẫu con dấu của tổ chức tôn giáo,
tổ chức tôn giáo trực thuộc;
g) Nhiệm
vụ, quyền hạn, nhiệm kỳ của ban lãnh đạo, thành viên ban lãnh đạo tổ chức tôn
giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc;
h) Điều
kiện, tiêu chuẩn, thẩm quyền, cách thức phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy
cử, thuyên chuyển, cách chức, bãi nhiệm, đình chỉ chức sắc, chức việc, nhà
tu hành;
i) Điều
kiện, thẩm quyền, cách thức giải thể tổ chức tôn giáo; thành lập, chia,
tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể tổ chức tôn giáo trực thuộc;
k) Việc
tổ chức hội nghị, hội thảo, đại hội; thể thức thông qua quyết định, sửa đổi, bổ sung hiến chương;
nguyên tắc, phương
thức giải quyết
tranh chấp nội bộ của tổ chức;
l) Nguyên tắc, trách nhiệm
hoạt động tôn giáo trên không gian mạng;
m) Quan
hệ giữa tổ chức tôn giáo với tổ chức tôn giáo trực thuộc, giữa tổ chức tôn
giáo với tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
2. Sửa đổi hiến chương
a) Tổ chức tôn giáo khi
sửa đổi hiến chương phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại
khoản 2 Điều 21 của Luật này;
b) Tổ
chức tôn giáo được hoạt động theo hiến chương sửa đổi kể từ ngày được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.
Điều 23. Tên của tổ
chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc
1. Tổ chức tôn giáo,
tổ chức tôn giáo trực
thuộc phải có tên bằng
tiếng Việt; không trùng với
tên tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc khác hoặc tổ chức đã được
cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, tên tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị - xã hội hoặc tên danh nhân, anh hùng dân tộc.
2. Tên của tổ chức tôn giáo,
tổ chức tôn giáo trực thuộc được pháp luật công
nhận và bảo vệ, được sử dụng trong quan hệ với tổ chức, cá nhân khác.
3. Tổ chức tôn giáo
thay đổi tên phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền
quy định tại khoản 2 Điều 21 của Luật này chấp thuận.
4. Trường hợp tổ chức tôn giáo trực thuộc thay đổi tên thì tổ chức tôn giáo có trách nhiệm đề nghị với cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 26 của Luật này chấp
thuận.
Điều 24. Thay đổi trụ sở của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc
1. Tổ chức tôn giáo khi thay đổi trụ sở phải được sự chấp thuận của Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở mới và phải thông báo bằng văn bản đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại
khoản 2 Điều 21 của Luật này.
2. Tổ
chức tôn giáo trực thuộc khi thay
đổi trụ sở phải được sự chấp thuận của
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi
đặt trụ sở mới và phải thông báo
bằng văn bản đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 26 của Luật này.
Điều 25. Thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức
tôn giáo trực thuộc
1. Tổ chức tôn giáo,
tổ chức tôn giáo trực thuộc được thành lập tổ chức tôn
giáo trực thuộc; chia, tách tổ chức tôn giáo trực thuộc
thành nhiều tổ chức tôn giáo
trực thuộc mới; sáp nhập tổ chức tôn giáo trực thuộc vào một tổ chức tôn
giáo trực thuộc khác; hợp nhất các tổ chức tôn giáo trực thuộc thành một
tổ chức tôn giáo trực thuộc mới.
2. Sau khi chia, tổ chức tôn giáo trực thuộc bị chia chấm dứt tồn tại; quyền, nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo trực
thuộc bị chia được chuyển
giao cho các tổ chức tôn giáo trực thuộc mới.
3. Sau khi tách, tổ chức tôn giáo trực thuộc bị tách và tổ chức tôn giáo trực thuộc được tách thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình phù hợp với mục đích hoạt động.
4. Sau
khi sáp nhập, tổ chức tôn giáo trực thuộc bị sáp nhập chấm dứt tồn tại;
quyền và nghĩa vụ của tổ chức tôn giáo trực thuộc bị sáp nhập được chuyển
giao cho tổ chức tôn giáo trực thuộc mà tổ chức đó được sáp nhập vào.
5. Sau khi hợp nhất, các tổ chức tôn giáo trực
thuộc cũ chấm dứt tồn tại kể từ thời điểm tổ chức tôn giáo trực
thuộc mới được thành lập; quyền và nghĩa vụ
của tổ chức tôn giáo trực
thuộc cũ được chuyển giao cho tổ chức tôn giáo trực thuộc mới.
Điều 26. Điều kiện, thẩm
quyền thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp
nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc
1.
Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc khi đáp ứng đủ các điều kiện
sau đây:
a) Hiến
chương của tổ chức tôn giáo có quy định về việc thành lập, chia, tách, sáp
nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc;
b) Hoạt động của tổ chức tôn giáo trực thuộc trước
khi chia, tách,
sáp nhập, hợp nhất không thuộc một trong
các trường hợp quy định tại Điều 7 của Luật này;
c) Có
người đại diện, người lãnh đạo tổ chức đáp ứng các điều kiện quy định tại điểm a, b và d khoản 2 Điều 14
của Luật này;
d) Có địa điểm hợp pháp để đặt trụ sở.
2.
Thẩm quyền chấp thuận
thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức
tôn giáo trực thuộc:
a) Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về việc thành lập, chia, tách, sáp nhập,
hợp nhất đối với tổ chức tôn giáo trực
thuộc có địa bàn hoạt động ở một tỉnh;
b) Bộ Dân tộc và Tôn giáo có trách
nhiệm trả lời bằng văn bản về việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp
nhất đối với tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở nhiều tỉnh.
3.
Sau khi được cơ quan nhà nước có
thẩm quyền chấp thuận, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có văn
bản thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc và phải thông
báo bằng văn bản với cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại
khoản 2 Điều này.
Hết thời hạn 01 năm kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp
thuận, nếu tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc không thành lập,
chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc thì văn bản
chấp thuận hết hiệu lực.
Điều 27. Tư cách pháp nhân của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc
1. Tổ
chức tôn giáo là pháp nhân phi thương mại kể từ ngày
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận.
2. Tổ chức tôn giáo đề nghị Ủy
ban nhân dân cấp
tỉnh nơi đặt trụ sở
của tổ chức tôn giáo trực thuộc cấp
đăng ký pháp nhân phi thương mại cho tổ chức tôn
giáo trực thuộc khi đáp ứng các điều kiện
quy định tại điểm đ, e và g khoản
1 Điều 21 của Luật này.
Điều 28. Giải thể tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc
1. Tổ
chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc giải thể trong trường hợp sau
đây:
a)
Theo quy định của hiến chương;
b) Không
hoạt động tôn giáo trong thời gian 01 năm kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận hoặc chấp thuận việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất; ngừng hoạt động tôn giáo trong thời gian 01 năm liên tục;
c) Hết thời hạn bị đình chỉ toàn bộ hoạt động tôn giáo mà không khắc phục được nguyên nhân dẫn đến việc bị
đình chỉ.
2. Thẩm quyền giải thể tổ
chức tôn giáo,
tổ chức tôn giáo trực
thuộc:
a) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở của tổ chức
tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc chấp thuận việc
tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc đề nghị được giải thể theo quy
định tại điểm a khoản 1 Điều này;
b) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc giải thể hoặc yêu cầu tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc giải thể tổ chức tôn giáo trực thuộc trong các trường hợp quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 1 Điều này.
3. Trước khi giải thể, tổ chức tôn giáo,
tổ chức tôn giáo trực thuộc phải thực
hiện đầy đủ các nghĩa vụ về tài sản. Tài sản của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo
trực thuộc bị giải thể được giải quyết theo quy định của pháp luật về dân
sự.
Mục 2
PHONG PHẨM, BỔ NHIỆM, BẦU CỬ, SUY CỬ,
THUYÊN CHUYỂN,
CÁCH CHỨC, BÃI NHIỆM, ĐÌNH CHỈ CHỨC SẮC,
CHỨC VIỆC, NHÀ TU HÀNH
Điều 29. Phong phẩm, bổ nhiệm,
bầu cử, suy cử chức sắc, chức việc
1. Tổ chức tôn giáo,
tổ chức tôn giáo trực thuộc được thực hiện việc phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử
theo hiến chương của tổ chức tôn giáo.
2. Người
được phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử
đáp ứng các điều kiện quy
định tại điểm a, b và d khoản 2 Điều 14 của Luật này.
3. Việc
phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử có yếu tố nước ngoài được thực hiện
theo quy định tại Điều 47 của Luật này.
Điều 30. Thông báo người
được phong phẩm hoặc suy cử làm chức sắc
1. Tổ chức tôn giáo có trách
nhiệm thông báo bằng văn bản đến Bộ Dân tộc
và Tôn giáo về người
được phong phẩm hoặc suy cử làm hòa thượng,
thượng tọa, ni trưởng, ni sư
của Giáo hội Phật giáo Việt Nam; giám mục, linh mục của Giáo hội Công
giáo Việt Nam; mục sư của các tổ chức Tin Lành; phối sư trở lên của các Hội thánh Cao Đài; giảng sư trở lên của
Tịnh độ Cư sỹ Phật hội Việt Nam và các
phẩm vị tương đương của tổ chức tôn giáo
khác chậm nhất 20 ngày kể từ ngày
phong phẩm hoặc suy cử.
2. Đối
với các trường hợp phong phẩm hoặc suy cử chức sắc không thuộc quy định tại
khoản 1 Điều này, chậm nhất 20 ngày kể từ ngày phong phẩm hoặc suy cử, tổ chức tôn giáo có trách nhiệm thông báo bằng văn bản đến
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi chức sắc cư trú và hoạt động tôn giáo.
3. Trường
hợp người được phong phẩm hoặc suy cử làm chức sắc không đáp ứng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 29 của Luật này, cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này có văn bản yêu cầu tổ
chức tôn giáo hủy kết quả phong phẩm hoặc suy cử chức sắc.
Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu, tổ chức tôn giáo có trách nhiệm hủy kết quả
phong phẩm hoặc suy cử chức sắc và có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc hủy
kết quả phong phẩm hoặc suy cử
đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2
Điều này.
Điều 31. Đăng ký người được bổ nhiệm,
bầu cử, suy cử làm chức việc
1. Tổ
chức tôn giáo trước khi bổ nhiệm, suy cử chức việc sau đây có trách nhiệm
gửi hồ sơ đăng ký đến Bộ Dân tộc và Tôn giáo:
a) Thành viên ban lãnh đạo tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở nhiều tỉnh;
b) Thành viên ban lãnh đạo
cơ sở đào tạo tôn giáo.
2. Đối
với các trường hợp không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trước
khi thực hiện việc
bổ nhiệm, suy cử chức việc có trách
nhiệm gửi hồ sơ đăng ký đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi chức việc cư trú và hoạt động
tôn giáo.
3. Tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo trước khi thực
hiện việc bổ nhiệm, suy cử chức việc có trách nhiệm gửi hồ sơ đăng ký đến
cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 20 của Luật này.
4. Tổ
chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận
đăng ký hoạt động tôn giáo có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về kết
quả người được bổ nhiệm,
suy cử đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 1, 2 hoặc 3 Điều này
chậm nhất 20 ngày kể từ ngày bổ nhiệm, suy cử.
5. Chậm
nhất 10 ngày làm việc kể từ ngày có kết quả bầu cử chức việc, tổ
chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo
trực thuộc, tổ chức được cấp chứng
nhận đăng ký hoạt động tôn giáo có trách nhiệm
gửi hồ sơ đăng ký đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại các
khoản 1, 2 hoặc 3 Điều này.
6. Đối
với người dự kiến lãnh đạo
tổ chức quy định tại
Điều 26 và Điều 34 của
Luật này sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận
thì các tổ chức có trách nhiệm thông báo kết quả về người được bổ
nhiệm, bầu cử, suy cử theo quy định tại khoản 4 Điều này.
Điều 32. Thuyên
chuyển chức sắc, chức việc,
nhà tu hành
1. Tổ
chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận
đăng ký hoạt động tôn giáo trước khi thuyên chuyển chức sắc, chức việc, nhà tu hành có trách nhiệm
thông báo bằng văn bản đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
nơi đi và nơi đến chậm nhất 20 ngày.
2. Tổ
chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận
đăng ký hoạt động tôn giáo trước khi thuyên chuyển chức sắc, chức việc, nhà tu hành là người đang có
án tích có trách nhiệm
gửi văn bản đăng ký đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi dự kiến
thuyên chuyển đến.
3. Tổ
chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo trước
khi thuyên chuyển
đồng thời bổ nhiệm đối với
một chức việc thực hiện
theo quy định tại
Điều 31 Luật này và thông báo đến
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đi.
Điều 33. Cách chức, bãi nhiệm, đình chỉ chức sắc, chức việc
1. Tổ chức tôn giáo,
tổ chức tôn giáo trực thuộc cách chức, bãi nhiệm, đình chỉ chức sắc, chức việc theo hiến
chương của tổ chức.
Chậm
nhất 20 ngày kể từ ngày có văn bản về việc cách chức, bãi nhiệm chức sắc,
chức việc, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc có trách nhiệm
thông báo bằng văn bản đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 30, khoản 1
hoặc khoản 2 Điều 31 của Luật này.
2. Tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cách chức, bãi
nhiệm, đình chỉ chức việc theo quy chế hoạt động của tổ chức.
Chậm
nhất 20 ngày kể từ ngày có văn bản về việc cách chức, bãi nhiệm, đình chỉ
chức việc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo có trách
nhiệm thông báo bằng văn bản đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
tại khoản 2 Điều 20 của Luật này.
3. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại các khoản 1, 2 hoặc 3 Điều
31 của Luật này có quyền đình
chỉ hoặc yêu cầu tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo
trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo đình chỉ
chức vụ của chức việc khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Có một trong các hành vi quy định tại Điều 7 của Luật này;
b) Vi
phạm điều kiện, tiêu chuẩn phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, thuyên
chuyển, cách chức, bãi nhiệm chức sắc, chức việc, nhà tu hành;
c) Sử
dụng giấy
tờ giả
mạo để
được bổ
nhiệm, bầu
cử, suy
cử làm
chức việc.
Mục 3
CƠ SỞ ĐÀO TẠO TÔN GIÁO, LỚP BỒI DƯỠNG VỀ TÔN GIÁO
Điều 34. Điều kiện, thẩm
quyền thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo
1. Tổ
chức tôn giáo được thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo để đào tạo tôn giáo khi
đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 26 của Luật này và các
điều kiện sau đây:
a)
Có cơ sở vật
chất bảo đảm cho việc đào tạo;
b) Có quy chế tổ chức và hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích của tổ chức tôn
giáo; có quy chế tuyển sinh;
c) Có chương
trình, nội dung đào tạo không trái quy định của pháp luật; có môn học về lịch sử Việt Nam và pháp luật Việt
Nam trong chương trình đào tạo;
d) Có nhân sự quản lý và giảng dạy đáp ứng yêu cầu đào
tạo.
2. Bộ Dân tộc và Tôn giáo
có trách nhiệm
trả lời bằng
văn bản về việc thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo.
3. Sau khi được Bộ Dân tộc và Tôn giáo chấp thuận, tổ chức tôn giáo có văn
bản thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo.
Hết
thời hạn 03 năm kể từ ngày được Bộ
Dân tộc và Tôn giáo chấp thuận, nếu tổ chức tôn giáo không thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo thì văn bản chấp thuận hết hiệu lực.
4. Cơ sở đào tạo tôn giáo
không thuộc hệ thống
giáo dục quốc dân.
Điều 35. Hoạt động của cơ sở đào tạo tôn giáo
1. Chậm
nhất 20 ngày trước khi cơ sở đào tạo tôn giáo bắt đầu hoạt động, người đại diện cơ sở đào tạo tôn giáo có trách nhiệm
thông báo bằng văn bản đến
Bộ Dân tộc và Tôn giáo về hoạt động của cơ sở đào tạo tôn giáo kèm theo văn
bản thành lập, quy chế tổ chức và hoạt động, quy chế tuyển sinh, danh sách thành
viên ban lãnh đạo, báo cáo về nguồn lực tài chính và cơ sở vật
chất để bảo đảm hoạt động.
2. Việc
tổ chức đào tạo, tuyển sinh của cơ sở đào tạo tôn giáo thực hiện theo quy
chế tổ chức và hoạt động, quy chế tuyển sinh đã thông báo.
3. Cơ sở đào tạo tôn giáo khi sửa đổi quy chế tổ chức và hoạt động,
quy chế tuyển sinh phải đăng
ký với Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
Cơ sở đào tạo tôn giáo được hoạt động theo các quy chế sửa đổi sau
khi được Bộ Dân tộc và Tôn giáo chấp thuận.
4. Cơ sở đào tạo tôn giáo có trách
nhiệm thông báo bằng văn bản về kết quả đào tạo của từng khóa học với Bộ
Dân tộc và Tôn giáo chậm nhất 20 ngày kể từ ngày kết thúc khóa học.
5. Trình
độ đào tạo, hình thức đào tạo, phương thức đào tạo của cơ sở đào tạo tôn giáo
phải tuân thủ chuẩn chương trình đào tạo do Chính phủ quy định.
6. Việc
theo học của người nước ngoài tại cơ sở đào tạo tôn giáo ở Việt Nam thực
hiện theo quy định tại Điều 45 của Luật này.
Điều 36. Hướng
dẫn chương trình,
nội dung giảng dạy môn học về lịch
sử Việt Nam và pháp luật Việt Nam
Bộ Dân tộc và Tôn giáo chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan hướng dẫn chương trình, nội dung giảng dạy môn học về lịch sử Việt Nam và pháp luật Việt Nam cho
các cơ sở đào tạo tôn giáo.
Điều 37. Mở lớp bồi dưỡng
về tôn giáo
1. Tổ
chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo
cho người chuyên hoạt động tôn giáo có trách
nhiệm thông báo bằng văn bản đến Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh nơi mở lớp chậm nhất 20 ngày trước ngày khai giảng.
2. Tổ
chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo mở lớp bồi dưỡng
về tôn giáo không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này có trách
nhiệm thông báo bằng văn bản đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi mở lớp chậm
nhất 20 ngày trước ngày khai giảng.
3. Trường
hợp việc mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo thực hiện một trong các hành vi quy định tại Điều 7 của Luật này thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy
định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này có văn bản yêu cầu tổ chức tôn giáo,
tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động
tôn giáo không tổ chức hoặc dừng lớp bồi dưỡng.
Điều 38. Giải thể cơ sở đào tạo tôn giáo
1. Cơ sở đào tạo tôn giáo
giải thể trong
trường hợp sau
đây:
a) Theo quyết định của tổ chức tôn giáo;
b) Hết thời
hạn 03 năm kể từ ngày được Bộ Dân tộc và Tôn giáo chấp thuận việc thành lập mà cơ sở đào tạo
tôn giáo không tổ chức hoạt động đào tạo;
c) Hết
thời hạn bị đình chỉ toàn bộ hoạt động đào tạo tôn giáo mà không khắc phục
được nguyên nhân dẫn đến việc bị đình chỉ.
2. Thẩm quyền chấp thuận
giải thể cơ sở đào tạo tôn giáo:
a) Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở của
cơ sở đào tạo tôn giáo chấp thuận việc tổ chức tôn giáo đề
nghị được giải thể cơ sở đào tạo tôn giáo
theo quy định tại điểm a khoản 1
Điều này;
b) Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở của cơ sở đào tạo tôn giáo giải thể hoặc
yêu cầu tổ chức tôn giáo giải thể cơ sở đào tạo tôn giáo khi thuộc một trong
các trường hợp quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 1 Điều này.
3. Trước khi giải thể, tổ chức tôn giáo,
cơ sở đào tạo tôn giáo phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về tài sản. Tài sản của cơ sở đào tạo tôn giáo bị giải thể được
giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự.
Chương VI
HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO; HOẠT ĐỘNG XUẤT BẢN, GIÁO DỤC, Y TẾ, BẢO TRỢ XÃ HỘI,
TỪ THIỆN, NHÂN ĐẠO CỦA TỔ CHỨC TÔN GIÁO
Mục 1
HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO
Điều 39. Thông báo danh mục hoạt động tôn giáo
1. Tổ
chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo có trách nhiệm
thông báo bằng
văn bản về danh
mục hoạt động tôn giáo diễn ra hằng năm chậm nhất 30 ngày kể từ ngày được
công nhận, chấp thuận hoặc được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo
theo quy định sau đây:
a) Tổ chức có địa bàn hoạt động tôn giáo ở một xã gửi thông báo đến Ủy ban nhân dân cấp xã;
b) Tổ chức có địa bàn hoạt động tôn giáo ở nhiều xã thuộc một tỉnh gửi thông
báo đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;
c) Tổ chức có địa bàn hoạt động tôn giáo ở nhiều tỉnh gửi thông báo đến Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
2. Việc thông báo danh mục hoạt động tôn giáo
diễn ra hằng năm chỉ thực hiện
một lần. Đối với hoạt động tôn giáo không có trong danh mục đã thông báo
thì người đại diện tổ chức có trách nhiệm
thông báo bổ sung với cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 1
Điều này chậm nhất 20 ngày trước khi diễn ra hoạt động.
Điều 40. Hội nghị, hội thảo của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc
1. Tổ
chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc tổ chức hội nghị thường niên có trách nhiệm
thông báo bằng
văn bản đến cơ quan nhà nước
có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 41 của Luật này chậm nhất 20 ngày trước
ngày tổ chức hội nghị.
2. Tổ
chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc tổ chức hội thảo, hội nghị liên
tôn giáo, hội nghị có yếu tố nước ngoài có trách nhiệm gửi văn bản đề nghị
đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi dự kiến tổ chức.
Điều 41. Đại hội của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo
trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo
1. Tổ
chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận
đăng ký hoạt động tôn giáo trước
khi tổ chức đại hội có trách nhiệm gửi hồ sơ đề nghị đến cơ quan nhà nước có
thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Thẩm quyền chấp thuận
tổ chức đại hội
a) Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm trả lời bằng văn bản đối với việc
tổ chức đại hội của tổ chức tôn giáo trực thuộc có địa bàn hoạt động ở một
xã;
b) Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản đối với việc tổ
chức đại hội của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo có địa bàn hoạt động ở nhiều xã trong một tỉnh;
c) Bộ Dân tộc và Tôn giáo có trách
nhiệm trả lời bằng văn bản đối với việc tổ chức đại hội không thuộc quy định
tại điểm a hoặc điểm b khoản 2 Điều này.
Điều 42. Cuộc lễ, giảng đạo ngoài cơ sở tôn giáo, địa điểm hợp pháp
1. Trước
khi tổ chức cuộc lễ ngoài cơ sở tôn giáo, địa điểm hợp pháp đã đăng ký, tổ
chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo có trách nhiệm
gửi văn bản đăng ký đến cơ quan
nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 3 Điều này.
2. Trước
khi giảng đạo ngoài địa bàn phụ trách, cơ sở tôn giáo, địa điểm hợp pháp
đã đăng ký, chức sắc, chức việc, nhà tu hành có trách nhiệm
gửi văn bản đăng ký đến cơ quan nhà nước có thẩm
quyền quy định tại khoản 3 Điều này.
3. Thẩm quyền chấp thuận tổ chức cuộc lễ, giảng đạo ngoài cơ sở tôn giáo,
địa điểm hợp pháp
a) Ủy
ban nhân dân cấp xã nơi dự kiến tổ
chức có trách nhiệm trả lời bằng
văn bản về việc tổ chức cuộc lễ, giảng đạo có phạm vi tổ chức ở một xã;
b) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi dự kiến tổ chức có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về việc tổ chức cuộc lễ, giảng đạo không thuộc quy định tại điểm a khoản này.
4. Cơ quan nhà nước
có thẩm quyền nơi tổ chức cuộc lễ, giảng đạo có trách
nhiệm hỗ trợ bảo đảm an ninh, trật tự cho cuộc lễ, giảng đạo.
Mục 2
HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
Điều 43. Điều kiện, thẩm quyền chấp thuận, thu hồi văn bản đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam
1. Người nước
ngoài cư trú hợp
pháp tại Việt
Nam được đăng ký sinh hoạt
tôn giáo tập trung tại Việt Nam khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
a) Có
giáo lý, giáo luật và nội dung sinh hoạt tôn giáo không thuộc một trong các
trường hợp quy định tại Điều 7 của Luật này;
b) Có địa điểm hợp pháp để sinh hoạt tôn giáo tập trung;
c) Người
đại diện đáp ứng các điều kiện quy định tại điểm b và d khoản 2 Điều 14 của
Luật này;
d) Tên của nhóm không trùng với tên tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc hoặc tổ chức đã được cấp
chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, tên tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị - xã hội hoặc tên danh nhân, anh hùng dân tộc.
2. Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về việc đăng ký
sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại
Việt Nam.
3. Nhóm
đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung được thay đổi địa điểm sinh hoạt tôn
giáo tập trung, thay đổi người đại diện theo quy định của pháp luật.
4. Trong thời
hạn 06 tháng, nếu nhóm sinh hoạt tôn giáo
tập trung không
tổ chức sinh hoạt tôn giáo thì văn bản chấp thuận đăng ký sinh hoạt
tôn giáo tập trung của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hết hiệu lực, trừ trường
hợp bất khả kháng theo quy định của pháp luật về dân sự.
5. Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh thu hồi văn bản chấp
thuận đăng ký sinh hoạt tôn giáo
tập trung khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung có một trong các hành vi quy định tại khoản 4 hoặc khoản 5 Điều 7 của Luật
này;
b) Theo
đề nghị của người đại diện nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung quy định tại
điểm c khoản 1 Điều này.
Điều 44. Hoạt động tôn giáo,
hoạt động quan hệ quốc tế về tôn giáo của
tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam
1. Tổ
chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc trước khi mời tổ chức, cá nhân
nước ngoài vào Việt Nam để thực hiện các hoạt động tôn giáo, hoạt động
quan hệ quốc tế về tôn giáo có trách nhiệm gửi hồ sơ đề nghị đến cơ quan
nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Thẩm
quyền chấp thuận hoạt động tôn giáo, hoạt động quan hệ quốc tế về tôn giáo
của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam:
a) Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về việc mời tổ
chức, cá nhân nước ngoài vào Việt Nam để thực hiện các hoạt động tôn
giáo ở một tỉnh;
b) Bộ Dân tộc và Tôn giáo có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về việc mời
tổ chức, cá nhân nước ngoài vào Việt Nam để thực hiện hoạt động tôn giáo
ở nhiều tỉnh hoặc hoạt động quan hệ quốc tế về tôn giáo.
3. Tổ chức được cấp chứng nhận
đăng ký hoạt động tôn giáo trước
khi mời chức sắc, nhà tu hành là người
nước ngoài hoặc người Việt Nam làm chức sắc cho
tổ chức tôn giáo ở nước ngoài
giảng đạo có trách nhiệm
gửi hồ sơ đề nghị đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi chức sắc,
nhà tu hành giảng đạo.
4.
Nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người
nước ngoài cư trú hợp pháp
tại Việt Nam trước khi mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài
giảng đạo có trách nhiệm gửi văn bản đề nghị đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có địa điểm sinh hoạt tôn giáo tập trung của
nhóm.
5. Trong
quá trình giảng đạo, chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài phải tôn trọng quy định của tổ chức tôn giáo,
tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức
được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo ở Việt Nam và tuân thủ quy
định của pháp luật Việt Nam.
Điều 45. Người
nước ngoài học tại cơ sở đào tạo tôn giáo ở Việt Nam
1. Người
nước ngoài học tại cơ sở đào tạo tôn giáo ở Việt Nam phải là người cư trú hợp pháp tại Việt Nam, tuân thủ pháp luật
Việt Nam, tự nguyện đăng
ký học và được cơ sở đào tạo tôn giáo gửi hồ sơ đề nghị đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có cơ sở đào tạo tôn giáo.
2. Ủy
ban nhân dân cấp tỉnh nơi có cơ sở đào tạo tôn giáo có trách nhiệm trả lời
bằng văn bản về việc người nước ngoài học tại cơ sở đào tạo tôn giáo ở
Việt Nam.
Điều 46. Tham gia hoạt động
tôn giáo, đào tạo tôn giáo ở nước ngoài
1. Tổ chức tôn giáo,
tổ chức tôn giáo trực
thuộc trước khi cử chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ tham gia hoạt động tôn giáo ở nước
ngoài có trách nhiệm
gửi hồ sơ đề nghị đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi chức sắc, chức việc, nhà
tu hành, tín đồ cư trú và hoạt động tôn giáo.
2. Tổ chức tôn giáo,
tổ chức tôn giáo trực
thuộc trước khi cử chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ tham gia
hoạt động đào tạo tôn giáo ở nước ngoài có trách nhiệm gửi hồ sơ đề nghị
đến Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
3. Cơ
quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này có trách nhiệm
trả lời bằng văn bản về việc
tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo
trực thuộc cử chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ tham gia hoạt động tôn giáo,
đào tạo tôn giáo ở nước ngoài.
Điều 47. Phong
phẩm, bổ nhiệm,
bầu cử, suy cử có yếu tố nước ngoài
1. Phong
phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử có yếu tố nước ngoài bao gồm các trường hợp
sau đây:
a) Tổ chức tôn giáo
nước ngoài phong
phẩm, bổ nhiệm,
bầu cử, suy cử cho công dân Việt Nam ở Việt Nam;
b) Tổ
chức tôn giáo ở Việt Nam phong phẩm hoặc suy cử phẩm vị cho người nước
ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam.
2. Người
được phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử quy định tại điểm a khoản 1 Điều
này phải đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 29 của Luật này.
3. Người được phong phẩm hoặc suy cử phẩm vị quy định tại điểm b khoản
1 Điều này phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Người
được phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức sắc phải đáp ứng quy
định tại điểm b và điểm d khoản 2 Điều 14 của Luật này;
b) Đã được đào tạo tôn giáo tại cơ sở đào tạo tôn giáo tại Việt Nam;
c) Tuân thủ pháp luật Việt Nam.
4. Thẩm
quyền chấp thuận phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử có yếu tố nước ngoài:
a) Bộ Dân tộc và Tôn giáo chấp thuận việc phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử,
suy cử có yếu tố nước ngoài quy định tại điểm a khoản 1 Điều này;
b) Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh nơi người nước
ngoài cư trú và hoạt động tôn giáo chấp thuận việc phong phẩm hoặc suy cử phẩm vị cho người nước ngoài cư trú hợp
pháp tại Việt Nam.
5. Công
dân Việt Nam được tổ chức tôn giáo nước ngoài phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử ở nước ngoài khi về Việt Nam làm chức sắc, chức việc thì tổ
chức tôn giáo,
tổ chức tôn giáo trực thuộc quản lý trực
tiếp có trách nhiệm đăng ký với Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
Điều 48. Hoạt động quan hệ quốc tế của tổ chức tôn giáo, tổ
chức tôn giáo trực thuộc, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ
1. Tổ
chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, chức sắc, chức việc, nhà tu
hành, tín đồ thực hiện các hoạt động quan hệ quốc tế theo hiến chương của
tổ chức tôn giáo, phù hợp với pháp luật Việt Nam.
2. Khi
thực hiện các hoạt động quan hệ quốc tế, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn
giáo trực thuộc, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ phải tuân thủ
pháp luật Việt Nam và pháp luật của quốc gia có liên quan.
Điều 49. Gia nhập tổ chức tôn giáo nước ngoài
1. Trước khi gia nhập tổ chức tôn giáo
nước ngoài, tổ chức tôn giáo có trách
nhiệm gửi hồ sơ đề nghị đến Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
2. Bộ
Dân tộc và Tôn giáo có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về việc tổ chức
tôn giáo đề nghị được gia nhập tổ chức tôn giáo ở nước ngoài.
3. Khi chấm dứt tham gia tổ chức tôn giáo nước ngoài, tổ chức tôn giáo có trách nhiệm thông báo bằng văn bản
đến Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
Mục 3
HOẠT ĐỘNG TRONG
LĨNH VỰC XUẤT BẢN,
GIÁO DỤC, Y TẾ, BẢO TRỢ XÃ HỘI, TỪ THIỆN, NHÂN ĐẠO
Điều 50. Hoạt động xuất bản, sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm
Tổ chức tôn giáo,
tổ chức tôn giáo trực thuộc được thực hiện xuất bản kinh
sách và xuất bản phẩm khác về tín ngưỡng, tôn giáo; sản xuất, xuất khẩu,
nhập khẩu văn hóa phẩm tín ngưỡng, tôn giáo, đồ dùng tôn giáo theo quy định của pháp luật về xuất bản và quy định khác
của pháp luật có liên quan.
Điều 51. Hoạt động giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo
Tổ chức tôn giáo,
tổ chức tôn giáo trực thuộc
được tham gia các hoạt động
giáo dục, y tế; được thực hiện các hoạt động bảo trợ xã hội, từ thiện,
nhân đạo để
phục vụ sự nghiệp phát triển
đất nước, bảo đảm an sinh xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo
quy định của pháp luật có liên quan.
CHƯƠNG VII
TÀI SẢN THUỘC CƠ SỞ TÍN NGƯỠNG,
TỔ CHỨC TÔN GIÁO
Điều 52. Việc quản
lý, sử dụng tài sản thuộc cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo
1. Tài
sản thuộc cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo bao gồm tài sản được hình thành
từ đóng góp của thành viên tổ chức; quyên góp, tặng cho của tổ chức, cá nhân hoặc các nguồn khác theo
quy định của pháp luật.
2. Tài
sản thuộc cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo phải được quản lý, sử dụng đúng mục đích,
công khai, minh bạch và phù hợp với quy định của pháp luật.
3. Cơ
sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo được hình thành theo tập quán, do các
thành viên của cộng đồng dân
cư cùng nhau đóng góp, quyên góp, được tặng cho
chung hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật nhằm phục vụ nhu
cầu tín ngưỡng,
tôn giáo của cộng đồng dân
cư là tài sản thuộc
sở hữu chung của cộng đồng dân cư.
4. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, tặng
cho, cho thuê, thế chấp, góp vốn tài sản bằng quyền
sử dụng đất thực hiện theo quy định của pháp luật
có liên quan.
5. Việc
tiếp nhận và quản lý các khoản tài trợ từ tổ chức, cá nhân nước ngoài của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc;
việc quyên góp của người đại diện, ban quản lý cơ sở tín
ngưỡng, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc thực hiện theo quy
định của pháp luật.
Điều 53. Đất tín ngưỡng, đất tôn giáo
Đất tín ngưỡng, đất tôn giáo được quản lý và
sử dụng theo quy định của pháp luật
về đất đai.
Điều 54. Cải tạo, nâng cấp,
bảo quản, tu bổ, phục hồi, xây dựng mới công
trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo, công trình phụ trợ
1. Việc
cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới công trình tín ngưỡng, công trình tôn
giáo, công trình phụ trợ được thực hiện theo quy định của pháp luật về
xây dựng và pháp luật có liên quan.
2. Việc bảo quản, tu bổ, phục hồi cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo là di tích trong Danh mục kiểm kê di tích hoặc
đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xếp hạng thực hiện theo quy định của
pháp luật về di sản văn hóa, pháp luật về xây dựng và pháp luật có liên
quan.
Điều 55. Di dời công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo
Việc
di dời công trình tín ngưỡng, công trình tôn giáo vì mục đích quốc
phòng, an ninh, phát triển
kinh tế - xã hội, vì lợi ích quốc gia, công cộng thực
hiện theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về xây dựng
và pháp luật về di sản văn hóa.
Chương VIII
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÍN NGƯỠNG,
TÔN GIÁO
Điều 56. Nội dung quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn
giáo
1. Xây dựng
và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành hoặc
ban hành theo thẩm quyền văn bản quy phạm pháp
luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
2. Phổ biến,
giáo dục pháp luật về tín ngưỡng,
tôn giáo.
3. Hướng
dẫn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật; tiếp nhận và xử lý đề nghị, kiến
nghị về văn bản quy phạm pháp luật; đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng, hướng
dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về tín ngưỡng, tôn giáo.
4. Thanh
tra, kiểm
tra, giám
sát việc
chấp hành
pháp luật
về tín
ngưỡng, tôn
giáo.
5. Giải
quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn
giáo.
6. Hợp tác quốc tế về tín ngưỡng, tôn giáo.
7.
Báo cáo về công tác thi hành pháp luật
về tín ngưỡng, tôn giáo.
8. Thực
hiện ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
và chuyển đổi số trong quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo; xây dựng,
quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu về tín ngưỡng, tôn giáo.
9. Phân
cấp, ủy
quyền các
nội dung
quản lý
nhà nước
về tín
ngưỡng, tôn
giáo.
Điều 57. Thẩm quyền quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo
1. Chính
phủ thống nhất quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo trong phạm vi cả
nước.
2. Bộ
Dân tộc và Tôn giáo chịu trách nhiệm trước Chính phủ trong việc thực hiện
quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo.
3. Bộ,
cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn có trách nhiệm phối hợp với Bộ Dân tộc và Tôn giáo khi thực hiện các nhiệm vụ theo thẩm quyền có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo.
4. Ủy
ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn thực hiện quản lý nhà
nước về tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương.
Điều 58. Kiểm
tra chuyên ngành về tín ngưỡng, tôn giáo
1. Kiểm tra chuyên ngành về tín ngưỡng, tôn giáo là hoạt động kiểm tra của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc
chấp hành pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
Bộ
trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo có thẩm quyền kiểm tra chuyên ngành về tín
ngưỡng, tôn giáo trên phạm vi cả nước. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có thẩm quyền kiểm tra chuyên
ngành về tín ngưỡng, tôn giáo thuộc phạm vi quản
lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cùng cấp.
2. Kiểm
tra chuyên ngành về tín ngưỡng, tôn giáo thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
a) Kiểm tra Ủy ban nhân dân các cấp trong việc
thực hiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo;
b) Kiểm
tra tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn
giáo;
c) Kiểm
tra những vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
Điều 59. Khiếu nại, tố cáo,
khởi kiện về tín ngưỡng,
tôn giáo
1. Người
đại diện, ban quản lý cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo
trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, chức sắc,
chức việc, nhà tu hành, tín đồ và các tổ chức,
cá nhân khác có quyền lợi
và nghĩa vụ liên quan có quyền khiếu nại, khởi kiện vụ án hành chính, khởi
kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của
pháp luật.
2. Cá
nhân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
Việc giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo thực
hiện theo quy định của pháp luật về tố cáo.
Chương IX
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
Điều 60. Hiệu lực thi
hành
1. Luật này có
hiệu lực thi hành từ
ngày 01 tháng 01 năm 2027.
2. Luật
Tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14 hết
hiệu lực thi hành từ ngày
Luật này có hiệu lực thi hành.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều 8, khoản 5 Điều 9, các khoản 2, 3 và
khoản 4 Điều 14, khoản 2 và điểm b khoản 3 Điều 15, khoản 1 Điều 16, Điều 17,
Điều 19, Điều 20, Điều 21, khoản 2 Điều 22, khoản 3 và khoản 4 Điều 23, Điều
24, Điều 26, khoản 2 Điều 27, khoản 2 và khoản 3 Điều 28, Điều 30, Điều 31,
Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 35, Điều 37, Điều 38, Điều 39, Điều 40, Điều
41, các khoản 1, 2 và 3 Điều 42, Điều 43, các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 44, Điều
45, Điều 46, khoản
4 và khoản 5 Điều 47, Điều 49, khoản 5 Điều 52 và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật
này.
Điều 61. Điều khoản chuyển
tiếp
1. Trường hợp hồ sơ thủ tục hành chính đã được cấp có thẩm quyền tiếp nhận trước ngày Luật này có hiệu lực
thi hành thì tiếp tục thực hiện các quy định của Luật Tín ngưỡng,
tôn giáo số 02/2016/QH14 và các văn bản pháp luật có liên quan.
2.
Đối với tổ chức đã được cấp chứng
nhận đăng ký hoạt động tôn giáo trước ngày Luật này có hiệu lực thì
thời gian để công nhận là tổ chức tôn giáo theo quy định tại khoản 1 Điều
21 của Luật này được tính từ khi tổ chức đó
được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo.
3.
Chậm nhất 30 ngày kể từ ngày Luật này có hiệu lực, tổ chức tôn giáo,
tổ chức tôn giáo
trực thuộc, tổ chức đã được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn
giáo chưa thực hiện thông báo danh mục hoạt động tôn giáo theo quy định tại
Điều 43 và Điều 67 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14, có trách
nhiệm thông báo danh mục hoạt động tôn giáo
diễn ra hằng
năm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại
khoản 1 Điều 39 của Luật này.
4.
Chậm nhất 30 ngày kể từ ngày Luật
này có hiệu lực, người
đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng chưa thực hiện đăng ký hoạt động tín ngưỡng theo quy định tại Điều 12 và Điều 67 của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo
số 02/2016/QH14, có trách nhiệm thông báo hoạt động tín ngưỡng diễn ra hằng năm với cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản
2 Điều 15 của Luật này.
Luật này được
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XVI, Kỳ họp thứ 01 thông
qua ngày …. tháng ….. năm 2026.
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
Trần Thanh Mẫn

0 Nhận xét